Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với
CODE
LỚP

Tên Khoa học: Bryopsida
Tên tiếng Anh: Mosses
Tên tiếng Việt: Rêu thật
Tên khác:

MÔ TẢ CHUNG

Đặc điểm

Các đại diện của lớp này có cơ thể phân chia thành thân và lá. Thân có cấu tạo đối xứng tỏa tròn và mang nhiều hàng lá. Cơ quan sinh sản hữu tính là túi tinh và túi trứng. Thể bào tử gồm chân, cuống và túi bào tử. Trong túi bào tử có trụ túi và bao quanh là các bào tử. Bào tử nẩy mầm cho sợi nguyên thể hiện rõ.

Phân loại

Lớp Rêu gồm 674 chi, với 14.645 loài xếp vào 17 bộ thuộc 3 dưới lớp: Rêu nước, Rêu đen va Rêu thật.

Dưới lớp Rêu nước - Sphagnobryidae

Chỉ có 1 bộ, 1 họ, 1chi Sphagnum với 336 loài.

Rêu nước có thân dài, nhỏ, phân cành nhiều, lá nhỏ. Ở đỉnh thân, cành ngắn, mọc dày đặc thành hình đầu, phía dưới mọc thưa hơn. Cấu tạo giải phẫu đơn giản. Thân có 3 lớp: ngoài là lớp vỏ, giữa là lớp tế bào dày màu nâu, trong là lớp tế bào màng mỏng không màu. Lá có lớp tế bào chứa 2 loại tế bào: tế bào chứa diệp lục và tế bào không diệp lục chứa nước. Thể tử nang có cuống ngắn. Túi bào tử mở bằng vòng nứt ngang. Thường Rêu nước mọc ở đầm lầy.

Đại diện Rêu nước - Sphagnum cuspidatulum.

Dưới lớp Rêu đen - Andreaebryidae.

Chỉ có 1 bộ, 1 họ, 2 chi và 91 loài. Có đặc điểm: túi bào tử mở bằng 4 rãnh dọc, các rãnh dính nhau ở đỉnh. Nó ở vị trí trung gian giữa rêu nước và Rêu thật. Rêu đen mọc phổ biến ở Bắc Cực, Nam Cực và núi cao.

Dưới lớp Rêu thật - Eubryidae

Là dưới lớp lớn nhất trong lớp Rêu. Gồm 15 bộ, 80 họ, 671 chi và 14.218 loài, phân bố khắp thế giới.

Đặc điểm sai khác với 2 dưới lớp trên là.

- Sợi nguyên luôn luôn có dạng sợi.

- Thể giao tử có dạng thân lá.

- Lá có gân giữa.

- Mô sình bào tử phát triển từ nội bì.

Túi bào tử chín phân hoá thành một số mô. Đại diện điển hình là Rêu tường hay Rêu than: Funaria hygromctrica, Là một loài thân nhỏ, cao 1 - 3 cm. Lá xếp xoắn mọc sít nhau ở đỉnh thân, tạo thành hình đầu trong có đỉnh sinh trưởng, lá phía dưới thưa hơn. Rễ giả có dạng sợi đa bào. Thân có cấu tạo giải phẫu phức tạp hơn rêu tản: ngoài cùng là biểu bì, tiếp đến là phần vỏ có 2 lớp ngoài và trong và trong cùng bó dẫn nhỏ. Lá có hình trứng rộng, có gân giữa, gồm một lớp tế bào chứa nhiều diệp lục. Cơ quan sinh sản là túi tinh và túi trứng nằm ở đỉnh chồi, tập hợp thành nón, xen lẫn với các sợi bên. Chúng là loài khác gốc. Thế hệ giao tử chiếm ưu thế (n) so với thế hệ bào tử (2n). Đối với Rêu có một số điểm cần chú ý là hình thái ngoài rất đa dạng tròn, dẹp, mọc thẳng, mọc bò trên giá thể, treo thỏng trên cây sống ở nước... Trong cấu tạo giải phẫu ở một số chi cũng có sự biến đổi. Sinh sản dinh dưỡng có nhiều hình thức phong phú tách ngọn, chồi, sợi nguyên, rễ giả.

PHÂN LOẠI KHOA HỌC
Giới: Thực vật
Ngành: Bryophyta

CÁC BỘ
Eubryales
Funariales
Isobryales

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2017