Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với
CODE

TIN TỨC > TIN TỨC CHUNG - THỜI SỰ

Trả lại tên cho Mỡ, Vàng tâm

Cập nhật ngày 30/3/2015 lúc 5:31:00 PM. Số lượt đọc: 895.

Gần đây có nhiều tranh luận về tên các loài cây Mỡ và Vàng tâm, và đã có nhiều chuyên gia về phân loại thực vật lên tiếng về tên khoa học chính xác của chúng. Tuy nhiên, không ít người vẫn còn nhầm lẫn, thậm chí trang Từ điển Bách khoa trực tuyến mở Wikipedia cũng chưa rõ ràng về các loài cây này. Vậy để làm rõ hơn, xin mời quý vị độc giả đọc chi tiết những thông tin được cung cấp dưới đây

Trong bài này, tên tiếng Việt được trích dẫn từ cuốn sách Cây Cỏ Việt Nam (CCVN) của GS. Phạm Hoàng Hộ, Sách Đỏ Việt Nam 2007 (SĐVN) và dựa trên lý lịch mẫu được lưu tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. Tất cả các tên khoa học đã được chấp nhận bởi Vườn Thực vật Hoàng gia Anh và Vườn Thực vật Mít-xu-ri Hoa Kỳ đăng tải trên trang ‘The Plantlist’.

 

Vàng tâm [1]: Magnolia conifera (Dandy) V.S.Kumar [2, 9]

Tên đồng nghĩa:

 Magnolia conifera var. conifer
 Manglietia conifera Dandy

Tình trạng bảo tồn: Danh lục đỏ quốc tế mức LC (Ít lo ngại) [6]

Ảnh mẫu tiêu bản chuẩn (Holotype) và lý lịch loài Vàng tâm Magnolia conifera (Ảnh: MNHN)

Theo tìm hiểu của tác giả thì tên gọi ‘Vàng tâm’ trong nhân dân chính là loài này và có tên khoa học là Magnolia conifera. Tên tiếng ‘Vàng tâm’ này đã được nhắc đến trong cuốn sách của GS. Phạm Hoàng Hộ. Và quan trọng hơn nó được ghi rõ ràng trong lý lịch tiêu bản mẫu chuẩn (Holotype) của loài được thu bởi F. Fleury ngày 2 tháng 6 năm 1918 tại Ba Vì, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội). Mẫu này mang số hiệu của người thu mẫu là 37817, mã số ở phòng tiêu bản là MNHN-P-P00204406 và hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. F. Fleury cũng ghi rõ tên địa phương chúng được gọi là ‘hông hit’. Ban đầu mẫu này được định loại nhầm là Manglietia glauca (nay tên này trở thành tên đồng nghĩa của loài Magnolia sumatrana var. glauca). Nhưng H.P. Nooteboom năm 1987 đã định loại chúng chính là loài Manglietia conifera, và được xác nhận lại bởi Chen Bao Liang vào năm 1991.

Đây là loài mọc tự nhiên ở Việt Nam (Lào Cai, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Bình Định, Hà Nội (Ba Vì)) [1, 6], và Trung Quốc [1, 5, 6]. Chúng được xếp vào nhóm cây trang trí, làm thuốc và lấy gỗ đóng đồ gia dụng [5, 6]. Như vậy trải qua gần thế kỷ, tên gọi ‘Vàng tâm’ vẫn đúng với loài Magnolia conifera.

 

Dạ hợp dandy [1], Vàng tâm (4): Magnolia dandyi Gagnep. [3, 9]

Tên đồng nghĩa:

Magnolia megaphylla (Hu & W.C.Cheng) V.S.Kumar
Manglietia dandyi (Gagnep.) Dandy
Manglietia megaphylla Hu & W.C.Cheng
Manglietia sinoconifera F.N.Wei

Tình trạng bảo tồn: Danh lục đỏ quốc tế mức LC (Ít lo ngại) [7]; Sách đỏ Việt Nam 2007 mức VU (Sẽ nguy cấp) [4].

Ảnh mẫu tiêu bản chuẩn (Holotype) loài Dạ hợp dandy - Magnolia dandyi (Ảnh: MNHN)

Loài Magnolia dandyinày trong SĐVN gọi là ‘Vàng tâm’, còn trong CCVN gọi là ‘Dạ hợp dandy’. Mẫu chuẩn (Holotype) loài này được thu bởi E. Poilane tại Luang Prabang, Lào ngày 4 tháng 4 năm 1932. Mẫu này mang số hiệu của người thu mẫu là 20714, mã số ở phòng tiêu bản là MNHN-P-P00204418 và hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. Chúng được định loại là Manglietia dandyi bởi GS. Nông Văn Tiếp năm 1978 và được xác nhận lại bởi Chen Bao Liang năm 1990. Rất tiếc, mẫu này không phải thu tại Việt Nam nên không có tên tiếng Việt đi kèm.

Loài này có mọc tự nhiên ở Việt Nam (Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh (Đầm Hà), Thanh Hoá, Nghệ An (Quỳ Châu), Quảng Bình (Ba Rền)) [4], Trung Quốc [1, 5, 7]; và Lào [5,7]. Theo Danh lục đỏ của IUCN quốc tế (IUCN) thì loài Vàng tâm này được dùng làm nắp sáo diều ở Việt Nam [7] (khu vực Hà Tây cũ – tác giả). Chúng được xếp vào nhóm cây trang trí, lấy gỗ dùng trong xây dựng, đóng đồ gia dụng và làm củi [5]

 

Mỡ phú thọ [1]: Magnolia chevalieri (Dandy) V.S.Kumar [2, 9]

Tên đồng nghĩa:

Magnolia phuthoensis (Dandy ex Gagnep.) V.S. Kumar
Manglietia chevalieri Dandy
Manglietia phuthoensis Dandy ex Gagnep.

Tình trạng bảo tồn: Danh lục đỏ quốc tế mức DD (Thiếu dẫn liệu) [8]

Ảnh mẫu tiêu bản chuẩn (Holotype) loài Mỡ - Magnolia chevalieri (Ảnh: MNHN)

Loài ‘Mỡ’ này có tên khoa học là Magnolia chevalieri, trong CCVN gọi là ‘Mỡ phú thọ’. Mẫu chuẩn (Holotype) loài này được thu bởi A.J.B. Chevalier tại Langbian (Lâm Đồng) ngày 30 tháng 4 năm 1919. Mẫu này mang số hiệu của người thu mẫu là 40404, mã số ở phòng tiêu bản là MNHN-P-P00204394 và hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. Ban đầu chúng được định loại nhầm là Manglietia glauca (nay tên này trở thành tên đồng nghĩa của loài Magnolia sumatrana var. glauca). Sau đó Chen Bao Liang vào năm 1991 đã định loại chúng chính là loài Manglietia chevalieri. Tuy nhiên lý lịch mẫu này không ghi tên gọi tiếng Việt.

Một điều rất thú vị là trên một số tiêu bản mẫu được thu bởi “Service Forestier Tonkin” ngày 7 tháng 10 năm 1924 tại Phú Thọ, có số hiệu của người thu mẫu là 15, mã số ở phòng tiêu bản là MNHN-P-P00204464, đã được ghi lại với tên tiếng Việt là “Mở”. Chúng chính là mẫu mà Dandy định loại là Manglietia phuthoensis và còn ghi chữ “Typus” lên đó vào năm 1927 (nay trở thành tên đồng nghĩa của Magnolia chevalieri). Như vậy có thể khẳng định loài này được người dân địa phương gọi là Mỡ.

Ảnh mẫu tiêu bản và lý lịch loài Mỡ với tên Manglietiaphuthoensis

Đây là loài phân bố tự nhiên và cũng được trồng rộng rãi ở phía Bắc Việt Nam, ngoài ra còn có ở Lào; và Trung Quốc [8]. Chúng được xếp vào nhóm cây trang trí, lấy gỗ dùng trong xây dựng, và đóng đồ gia dụng [5, 8]. Ngoài ra chúng cũng được trồng ở đường phố và vườn cây do có thời gian ra hoa dài [8].

Một khía cạnh khác, theo một số chuyên gia thì những cây Mỡ trồng ở phía Bắc đã và đang được gọi nhầm tên khoa học là Magnolia conifera (Vàng tâm) trong khi tên thật của chúng là Magnolia chevalieri. Việc nhầm lẫn này có thể dẫn đến áp dụng những quy trình nhân giống và chăm sóc, xác định giá trị thương phẩm gỗ của loài Vàng tâm cho loài Mỡ.

Th.S Phạm Văn Thế - phòng Tài nguyên thực vật, viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

 

Tài liệu tham khảo:

1. Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam – An Illustrated Flora of Vietnam, 1999. Tập 1: 230-232. NXB Trẻ

2. Kew Bull. 61: 183, 2006.
3. Flore Générale de l'Indo-Chine [P.H. Lecomte et al.] Suppl.: 38 (1938), gallice; et in Humbert, Not. Syst. viii. 63 (1939), latine.

4. Sách đỏ Việt Nam - Phần II.Thực vật: tr.270-271, 2007. NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ

5. Flora of China, Vol. 7: 50-60

6. Khela, S. 2014. Magnolia conifera. The IUCN Red List of Threatened Species. Version 2014.3. <www.iucnredlist.org>. Downloaded on 28 March 2015.

7. Rivers, M.C. & Wheeler, L. 2014. Magnolia dandyi. The IUCN Red List of Threatened Species. Version 2014.3. <www.iucnredlist.org>. Downloaded on 28 March 2015.

8. Rivers, M.C., Wheeler, L. & Khela, S. 2014. Magnolia chevalieri. The IUCN Red List of Threatened Species. Version 2014.3. <www.iucnredlist.org>. Downloaded on 28 March 2015.

9. The Plantlist, Royal Botanic Gardens, Kew and Missouri Botanical Garden <http://www.theplantlist.org>. Downloaded on 28 March 2015.

the.bvn/nguoidothi.vn

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO

CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT


SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2017