Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với
CODE

TIN TỨC > CÂY CỎ LÀM THUỐC

Giới thiệu các cây thuốc mang tên NGƯU

Cập nhật ngày 6/1/2009 lúc 5:13:00 PM. Số lượt đọc: 830.

Trâu là con vật rất gần gũi với người dân Việt Nam, là biểu tượng của Seagame 23 tại Việt Nam. Trong Y học phương đông và thực vật học dân tộc học Việt Nam, rất nhiều các bài thuốc dân gian cũng được bắt nguồn từ tên con vật gần gũi ấy - NGƯU. Nhân dịp xuân Kỷ Sửu, BVN xin giới thiệu tới bạn đọc một số cây thuốc mang tên này.

1. Ngưu tất - 2. Ngưu thiệt - 3. Ngưu bàng tử - 4. Ngưu căn thảo - 5. Khiên ngưu tử - 6. Tử kim ngưu tòa sen

Ngưu tất

Ngưu tất - Achiranthes bidenta
Ảnh theo Irc-hueuni.org.vn

Tên thường gọi: Ngưu tất
Tên khoa học là Achiranthes bidenta Blume
Thuộc họ rau giền Amaranthaceae

Cây có đốt cở nhánh to bạnh như xương đầu gối (bánh chè) con trâu nên gọi là ngưu tất.

Mô tả

Cây thảo sống nhiều năm, cao 60-110cm. Rễ củ hình trụ dài. Thân có 4 cạnh, phình lên ở các đốt. Lá mọc đối, hình trái xoan bầu dục cỡ 15x5cm, nhọn hai đầu, mép lượn sóng, có lông thưa hay không lông; gân phụ 5-7 cặp; cuống ngắn 1-3cm. Cụm hoa hình bông mọc ở ngọn thân hoặc đầu cành; hoa ở nách những lá bắc. Quả bế hình bầu dục, chứa một hạt hình trụ.

Hoa tháng 5-9, quả tháng 10-11

Bộ phận dùng

Rễ, củ - Radix Achyranthis Bidentatae, thường gọi là Ngưu tất.

Nơi sống và thu hái

Cây nhập, trồng được cả ở núi cao lẫn đồng bằng. Thu hái vào mùa đông xuân, phơi tái rồi ủ đến khi nhăn da (6-7 ngày), xông diêm sinh, sấy khô. Dùng sống hoặc tẩm rượu sao.

Thành phần hoá học

Rễ củ chứa saponin tritecpen, genin là acid oleanolic, các sterol ecdysteron, inokosteron.

Tính vị, tác dụng

Ngưu tất có vị đắng, chua mặn, tính bình; có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, phá ứ huyết, tiêu ung độc. Ngưu tất vị đắng, chua, tính bình, quy vào hai kinh can, thận. Tác dụng hoạt huyết, thông kinh, hoạt lạc, chữa bế kinh, kinh nguyệt không đều. Làm thư cân, mạnh gân cốt trong các bệnh xương khớp đặc biệt là khớp của chân. Dùng cầm máu trong những trường hợp hỏa độc bốc lên gây nôn ra máu, chảy máu cam, lợi niệu trừ sỏi trong chứng thạch lâm, hạ huyết áp, giảm cholesterol trong máu, giải độc chống viêm.

Công dụng

Chống viêm, hạ cholesterol máu, hạ áp, gây co bóp tử cung Tuệ Tĩnh đã viết về Ngưu tất:

Ngưu tất cũng như rễ Cỏ xước

Tính bình, chua, đắng, khoẻ gân cốt

Chữa khớp, tê liệt, mạnh dương tinh

Điều huyết, tiểu thông, trừ cơn sốt.

Ngày nay Ngưu tất dùng chữa thấp khớp, đau lưng, bế kinh, kinh đau, huyết áp cao, bệnh tăng cholesterol máu, đái buốt ra máu, đẻ khó hoặc nhau thai không ra, sau đẻ ứ huyết, chấn thương tụ máu, viêm họng.

Ngày dùng 6-12g, sắc uống.

Dân gian cũng dùng Ngưu tất chữa sốt rét lâu ngày không khỏi.

Đơn thuốc:

1. Chữa bị thương tụ máu ở ngoài hay bị ngã máu ứ ở trong, hoặc sau mỗi khi đi xa hay lao động chân tay nhức mỏi: Ngưu tất 100g, Huyết giác 50g, Sâm đại hành 30g ngâm với 800ml rượu 35o-40o, thường lắc, sau 10 ngày dùng uống mỗi lần 15ml, ngày uống hai lần.

2. Chữa bốc nóng nhức đầu, chóng mặt, đau mắt, ù tai, mắt mờ, huyết áp cao, rối loạn tiền đình, khó ngủ, đau nhức dây thần kinh, rút gân, co giật, táo bón: Ngưu tất 30g, hạt Muồng sao 20g, sắc uống, mỗi ngày một thang.

Anhtai (tổng hợp)

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO

CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2017