Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > BẢO TỒN THIÊN NHIÊN

Rừng buồn

Cập nhật ngày 9/1/2009 lúc 9:27:00 AM. Số lượt đọc: 430.

Ở miền núi và vùng trung du, vấn đề môi trường lại càng quan trọng vì nơi đây chứa một diện tích rừng rộng lớn và hệ tài nguyên sinh học phong phú (đa dạng sinh học). Rừng là một nguồn tài nguyên sinh vật vô cùng quý giá, là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, một yếu tố thiên nhiên giữ nhiều chức năng sinh thái có liên quan trực tiếp đến cuộc sống dân cư nhiều vùng

Miền núi nước ta khá rộng lớn, có đến 54 dân tộc sinh sống. Trong quá trình giao lưu, nhất là từ khi có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, số người Kinh ở đồng bằng lên miền núi cùng chung sống, canh tác với dân tộc ít người ngày càng nhiều, đặc biệt ở Tây Nguyên. Cuộc sống của dân cư miền núi gắn rất chặt với đất đai và động thực vật ở rừng. Miền núi lại là một vùng đất có nhiều phong tục tập quán và những nét văn hoá mang sắc thái dân tộc độc đáo, riêng biệt. Do đó vấn đề kinh tế và môi trường ở đây còn là những vấn đề xã hội nhạy cảm, phải giải quyết bằng những biện pháp thích hợp.

Tuy nhiên, vẫn phải thẳng thắn nêu lên một nhận định tổng quát đau lòng là rừng của chúng ta đã bị tàn phá dữ dội (dù trong đó có những nguyên nhân khách quan bất khả kháng). Hiện nay độ che phủ của rừng không còn bao nhiêu. Riêng vùng Tây Bắc chỉ còn khoảng dưới 20% diện tích rừng tự nhiên. Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều vùng đất rộng lớn ở phía Nam đã bị khai phá để trồng cà phê, cao su, chè,... Vào giữa thế kỷ XX, nhiều khu rừng thuộc sông Cửu Long, ven biển miền Trung đã bị khai phá để trồng trọt và xây dựng làng xóm. Thời gian 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, rừng Việt Nam bị thu hẹp rất nhanh. Hàng chục triệu tấn bom đạn, khoảng 80 triệu lít chất diệt cỏ, làm trụi lá cây cùng với những đội xe ủi đất phá rừng khổng lồ đã thiêu huỷ hơn 2 triệu ha rừng nhiệt đới các loại. Hậu quả chiến tranh, nhất là chiến tranh hoá học đối với tài nguyên và môi trường là rất lớn. Chất độc màu da cam - điôxin không chỉ làm cho cây rừng bị chết tức thì mà hàng chục năm sau vẫn chưa phục hồi được, nhiều động vật rừng bị chết và suy thoái. Từ ngày thống nhất đất nước đến nay, diện tích rừng tự nhiên cũng bị giảm nghiêm trọng, đặc biệt là Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ. Sau chiến tranh, nhân dân các địa phương tranh thủ chặt gỗ làm nhà và lấy đất trồng trọt. Gần chục năm qua, tuy có được hạn chế nhưng tình trạng mất rừng và khai thác gỗ trái phép vẫn tiếp diễn. Các vụ phá rừng ở Tánh Linh, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Nghệ An, Bắc Giang, Vườn quốc gia Phú Quốc, Vườn quốc gia Kong Ka King,... đã chứng tỏ sự buông lỏng quản lý của các cơ quan có trách nhiệm, đặc biệt là các cơ quan cấp phép và quản lý khai thác. Chỉ sáu tháng đầu năm 2003, cả nước đã xảy ra khoảng 15.000 vụ vi phạm Luật Bảo vệ rừng và hàng chục vụ kiểm lâm viên bị lâm tặc tấn công.

Sự mất và suy giảm rừng như nói trên đã gây ra nhiều tác hại lớn về kinh tế, về công ăn việc làm, về đa dạng sinh học, về chất lượng sống của con người... Các trận lũ lụt lớn trong những năm qua ở hầu khắp các vùng trên đất nước đã gây ra nhiều thiệt hại nặng nề về người, mùa màng, nhà cửa, ruộng vườn, đường sá,... một phần quan trọng là do sự suy thoái rừng, nhất là rừng đầu nguồn. Trận lũ xảy ra cuối tháng 10 năm 2003 tại 6 tỉnh miền Trung đã cướp đi 52 sinh mạng, hàng nghìn nhà cửa, hàng chục nghìn ha lúa và hoa màu. Trận lũ tiếp theo sau đó chỉ mấy tuần ở các tỉnh miền Nam Trung Bộ còn gây ra nhiều thiệt hại nặng nề hơn. Ngay gần đây (hạ tuần tháng 7-2004) trận lũ quét xảy ra ở Hà Giang đã làm mất tích gần 50 người, làm sạt lở hàng chục km đường sá, cầu cống và hàng nghìn ha nương rẫy đang trồng trọt.

Cũng trong những năm qua, hạn hán xảy ra khá nhiều nơi ở các địa phương miền núi và trung du. Có thể đó là do hiện tượng El Nino, nhưng việc phá rừng, nhất là rừng đầu nguồn trong những năm qua, đã làm cho hậu quả vốn đã nghiêm trọng như đã nói trên càng nghiêm trọng thêm. Đặ c biệt ở Tây Nguyên, do hạn hán, nạn đói đã xảy ra khá nặng nề trong những ngày giữa năm 2003. Riêng tỉnh Đắk Lắk, có đến 250.000 hộ dân không còn gì để ăn, phải cần đến sự hỗ trợ, 62.000 hộ khác mong ngóng trời mưa vì phải đi đến mấy cây số liền mới lấy được vài bình nước mang về dùng. Về sản xuất thì có gần 6.000 ha lúa Đông Xuân, trên 40.000 ha cà phê, gần 1.500 ha rau màu bị cạn kiệt nguồn nước tưới tiêu. Tỉnh đã chi khoảng 40 tỷ đồng và nhân dân đã đầu tư 35 tỷ đồng cho công việc chống hạn nhưng vẫn không thể nào cứu vãn được hết, đành phải chấp nhận mất trắng một tỷ lệ nhất định. Tỉnh Gia Lai và Kon Tum có phần đỡ hơn nhưng tình trạng sống và sản xuất trong mùa nắng hạn này cũng vô cùng căng thẳng.

Nạn cháy rừng cũng là một thảm họa, nhất là những năm đầu thập kỷ 90, thế kỷ XX trở lại đây. Những khu vực bị cháy nhiều nhất là Lâm Đồng (421 vụ) Sơn La (129 vụ); đặc biệt rừng quốc gia U Minh Thượng bị thiệt hại nặng nề nhất, khoảng 4000 ha rừng tràm bị cháy.

Hầu hết các khu rừng bị cháy đều nằm trong những vùng nhạy cảm (đầu nguồn, đất dốc, vùng sinh thái đất ngập nướ c, rừng trà m, vùng rừng chống cát di động) nên dễ bị lũ quét gây xói lở, đất dễ bị khô hạn và thoái hoá.

Rừng thông nước, rừng cây biểu tượng thần linh của Tây Nguyên từ bao đời nay, rừng cây có ý nghĩa sinh thái quan trọng, rừng cây thuộc diện quý hiếm đang kêu cứu vì có nguy cơ bị diệt chủng. Trên thế giới hiện nay chỉ còn độ gần 100 cây thông nước ở Tây Nguyên (Việt Nam) và một số ít nữa ở Vân Nam (Trung quốc). Giờ đây, số lượng cây thông nước ít ỏi và vô cùng quý giá đó đang bị thay thế một phần bằng cây cà phê và đang bị cà phê bao quanh kín mít phần còn lại nên số cây này cũng đang dần dần héo khô. Nhiều người ở nơi khác đến vì cái lợi trước mắt, do không thấy hết giá trị môi trường và tinh thần của cư dân ở đây nên đã hành động trái với tự nhiên. Mất cây thông đỏ là mất một nguồn gien quý hiếm. Vả lại nó còn có thể có những đặc tính rất quan trọng mà hiện nay các nhà khoa học còn đang nghiên cứu, chưa xác định được cụ thể.

Tuy vậy tình hình cuộc sống và môi trường ở miền núi đã có những dấu hiệu sáng sủa.

Những áp phích tuyên truyền cổ động bằng tranh ảnh, những sách chữ to, những báo chí chuyên đề miền núi về y tế, sinh đẻ có kế hoạch, về khoa học kỹ thuật phổ thông, về môi trường, những đội chiếu bóng, những đội tuyên truyền văn hoá lưu động,... đến các thôn bản ngày càng nhiều. Nhữ ng lớp xoá nạn mù chữ, bổ tú c văn hoá, các trạm y tế, các con đường mới,... đã xuất hiện, ngay cả ở những bản chót vót ở Mường Tè, Mường Vạc...

Những luật tục của từng dân tộc ít người cũng đã có nhiều cải tiến được cộng đồng dân tộc chấp nhận, tiến gần hơn với những quy định của Chính phủ, với luật pháp của Nhà nước. Luật tục là những quy ước theo đúng những phong tục tập quán của dân tộc (ví dụ như luật tục của dân tộc Thái, Hoà Bình, luật tục của dân tộc Êđê, Đắk Lắk,...) hợp với đạo lý ứng xử chung nên mọi người trong dân tộc tuân thủ. Trước đây trong luật tục quy định những quyền lợi quá lớn cho chúa đất ( tức Tạo) và khi chúa đất phạm tội thì dân thường phải góp tiền để trả phạt thay. Nay một số nơi đã bỏ hủ tục đó và những hủ tục tương tự mà tập trung nhiều hơn hoặc bổ sung thêm những quy ước mới phù hợp như vấn đề tranh chấp đất đai, vấn đề đốn cây to, săn bắt thú hiếm, vấn đề hôn nhân gia đình. Những quy ước đó chưa thành luật nhưng cũng gần như luật, mọi thành viên trong dân tộc rất tự nguyện, nghiêm túc thực hiện. Có nơi luật tục đã thành văn nhưng cũng có nơi chưa thành văn, nó tồn tại dưới dạng truyền miệng cho nhau những câu nói vần. Luật tục còn mang nặng tính chất cục bộ, địa phương, còn mang tính riêng biệt đơn thuần của một dân tộc, nên không tránh khỏi còn khập khiễng. Song so với trước, luật tục của các dân tộc ngày nay tiến bộ văn minh hơn nhiều. Do ở xa, họ ít được tiếp cận với chính quyền và các điều kiện thông tin nên hiểu biết của họ về luật pháp quốc gia còn hạn chế, mà chỉ coi trọng luật tục. Do đó, các cơ quan chuyên trách miền núi, khi ra một văn bản nào cho các dân tộc ít người đã phải nghiên cứu kỹ các luật tục này để có sự phối hợp nhuần nhuyễn, tránh những bất lợi không đáng có. ChăÃng hạn Nghị định khoánbảo vệ rừng và phát triển rừng cho thôn bản (202/TTg) hay Nghị định giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp (02/CP) hay Chỉ thị tăng cường quản lý bảo vệ rừng (286/TTg) được hầu hết đồng bào các dân tộc miền núi hoan nghênh và thực hiện tự giác. Nghị định số 202/TTg phù hợp với quan niệm rừng cộng đồng của người dân tộc; Nghị định số 02/CP phù hợp với quan niệm chia đất theo nguyên canh của họ bao đời nay; Chỉ thị số 286/TTg càng không xa với phong tục bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước, ngăn chặn dịch bệnh gia súc đã thành truyền thống của cư dân vùng cao. Sự đồng thuận giữa tư tưởng chỉ đạo của Nhà nước với phong tục tập quán thể hiện trong luật tục của đồng bào miền núi là một bảo đảm cơ bản cho sự thành công của các chủ trương.

Ngoài chính sách hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển rừng bằng các văn bản quan trọng nói trên, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và chính quyền các địa phương đã tăng cường biện pháp chỉ đạo, cử cán bộ có năng lực về giúp đỡ các vùng trọng điểm, kiện toàn, củng cố đội ngũ kiểm lâm, đầu tư kinh phí nhiều hơn cho công tác phủ xanh đất trống đồi trọc với sự áp dụng khoa học kỹ thuật mới. Từ năm 2000 đến nay, kết quả trồng rừng đã khá hơn, trung bình mỗi năm đạt được 130.000 ha. Độ che phủ của rừng có chiều hướng tăng lên rõ rệt.

Từ đầu thập kỷ 80, thế kỷ XX công việc bảo tồn đa dạng sinh học đã được sự quan tâm đặc biệt của các cấp có thẩm quyền. Bảo tồn đa dạng sinh học là bảo tồn các hệ sinh thái đặc thù của Việt Nam, các hệ sinh thái nhạy cảm đang bị đe dọa thu hẹp hay bị hủy hoại do hoạt động kinh tế hay cách sống vô ý thức của con người. Bảo tồn đa dạng sinh học còn có ý nghĩa là phát huy, phát hiện các giá trị sử dụng của các bộ phận đa dạng sinh học trên cơ sở phát triển bền vững các giá trị tài nguyên, phục vụ các mục tiêu kinh tế của đất nước. Đến nay, nước ta đã có một hệ thống các khu bảo tồn khá lớn gồm 126 cơ sở, trong đó có 27 vườn quốc gia, 60 cơ sở bảo tồn thiên nhiên, trong đó có 11 khu bảo tồn loài sinh cảnh, 49 khu dự trữ thiên nhiên và 39 khu bảo vệ cảnh quan.

Đặc biệt, Việt Nam đã có hai khu di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long và Phong Nha - Kẻ Bàng, hai khu bảo tồn sinh quyển là Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ và Khu Dự trữ sinh quyển Cát Tiên (Đồng Nai), Khu Bảo tồn RAMSAR Xuân Thuỷ ở cửa sông Hồng để bảo vệ đất ngập nước và các loài chim di cư.

Ngoài ra, nước ta cũng đang thực hiện một số dự án đặc biệt bằng cách vận động, khuyến khích nhân dân chủ động tham gia bảo vệ những loài động vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng như gà Lam đuôi trắng ở vùng Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh), voọc mông trắng ở Cúc Phương (Ninh Bình), voọc mũi hếch ở Na Hang (Tuyên Quang), hổ (Thừa Thiên-Huế, Kon Tum), voọc đầu trắng ở Cát Bà (Hải Phòng), tê giác một sừng ở Cát Tiên. Kết quả cho thấy rất khả quan

(theo vacne.org.vn)

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO

CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2019