Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với
HỌ

Tên Khoa học: Orobanchaceae
Tên tiếng Anh:
Tên tiếng Việt: Lệ dương, Liệt đương, Cỏ chổi, Ô rô bà
Tên khác:

MÔ TẢ CHUNG

Orobanchaceae - Họ Lệ dương

Orobanchaceae, danh pháp khoa học của một họ thực vật có hoa, trong tiếng Việt gọi là họ Cỏ chổi hoặc họ Lệ dương, thuộc bộ Hoa môi (Lamiales), với khoảng 69 chi và trên 2.000 loài. Nhiều chi trong họ này trước đây đã được đưa vào trong họ Huyền sâm (Scrophulariaceae) nghĩa rộng. Tất cả các chi trong họ này cùng nhau tạo ra một nhóm đơn ngành và tạo thành một họ riêng biệt.

Đây là một họ phổ biến rộng khắp trên toàn thế giới, ngoại trừ Nam Mỹ, các khu vực thuộc Australia và New Zealand. Họ này chủ yếu tìm thấy tại khu vực ôn đới của đại lục Á-Âu và chỉ có rất ít loài thuộc về vùng nhiệt đới châu Phi và châu Mỹ.

Các loài thực vật này là ký sinh toàn phần hoặc bán ký sinh, chúng là các loại thực vật thân thảo một năm hay lâu năm sống trên rễ của các cây chủ. Các loài ký sinh toàn phần không có chất diệp lục (chlorophyll) và không tự thực hiện công việc quang hợp. Các loài bán ký sinh (được chuyển từ họ Scrophulariaceae) có khả năng quang hợp, trong khi có thể sống ký sinh.

Chỉ có một số ít loài có hệ thống bộ rễ lớn. Ở phần lớn các loài có các rễ ngắn và phồng to hay một cơ quan phồng to, thuộc dạng đơn hay hợp. Các rễ này gắn vào cây chủ bằng các giác mút có móc để chuyển các chất dinh dưỡng từ cây chủ sang chúng.

Chúng có các lá suy giảm không có cuống, trông giống như các vảy mọng nước. Các vảy nhỏ mọc so le này thuộc dạng lá đơn, hình mác, thuôn dài hay bầu dục.

Các hoa lưỡng tính là loại đối xứng hai bên và mọc thành cành hay cụm hoa hoặc mọc đơn trên đỉnh ngọn của thân cây thanh mảnh. Đài hoa hình ống được tạo thành từ 2-5 cánh hợp nhất. Năm cánh hoa hai môi hợp nhất tạo thành tràng hoa. Môi trên là loại 2 thùy, môi dưới là 3 thùy. Có hai nhị hoa dài và hai nhị hoa ngắn trên các chỉ nhị thanh mảnh, lồng vào phía dưới của ống tràng hoa giữa hay ở gốc của tràng hoa, mọc so le với các thùy của ống. Nhị hoa thứ năm hoặc là vô sinh hoặc là không có. Các bao phấn nứt ra theo các khe hở dọc. Nhụy hoa là một tế bào. Bầu nhụy hoa lớn. Hoa được thụ phấn nhờ côn trùng.

Quả của chúng là loại quả nang dễ nứt, không có cùi thịt, một ngăn với nhiều hạt rất nhỏ có nội nhũ. Chúng được gió phát tán đi xa, làm gia tăng cơ hội tìm thấy cây chủ mới của chúng.

Các loài cây này có màu ánh vàng, ánh nâu, ánh tía, hoặc trắng nhưng không có màu lục, ngoại trừ một vài loài bán ký sinh.

Mô tả

Cây cỏ kí sinh không có diệp lục, sống trên mặt đất bám vào rễ cây chủ màu trắng. Phần trên đất thẳng đứng và có lá biến thành vảy.

Hoa ở tận cùng, không đều, lưỡng tính và tạo thành chùm. 5 lá đài dính và 5 cánh tràng dính tạo thành 2 môi. Lá noãn nằm ở trước và sau so với trục hoa. Có 4 nhị trong đó có 2 cái dài và 2 cái ngắn, xen kẽ với cánh tràng. Bầu trên, 1 ô chứa nhiều noãn, đính theo 4 bên và xếp dọc thường thành hình chữ T trong mặt cắt.

Thế giới có 13 chi và 160 loài, phân bố ở bán cầu Bắc, chủ yếu là ở vùng Ôn đới và Cận nhiệt đới của cựu lục địa.

Phân loại

Họ này rất gần với Scrophulariaceae, nhiều loài bán kí sinh.

Việt Nam có 2 chi và và 4-5 loài.

Các chi

Lathraea theo truyền thống được đặt trong họ Orobanchaceae, nhưng một số chứng cứ gần đây cho rằng nó nên được chuyển sang họ Huyền sâm (Scrophulariaceae).

    * Aeginetia: Dã cô
    * Agalinis
    * Asepalum
    * Aureolaria
    * Bartsia (bán ký sinh)
    * Bellardia?
    * Boschniakia: Thảo thung dung
    * Buchnera
    * Bungea
    * Buttonia
    * Castilleja: Hỏa diễm thảo (bán ký sinh)
    * Centranthera
    * Christisonia: Giả dã cô
    * Cistanche: Nhục thung dung
    * Clevelandia
    * Conopholis
    * Cordylanthus
    * Cyclocheilon
    * Cycnium
    * Cymbaria
    * Epifagus
    * Escobedia
    * Esterhazya
    * Euphrasia: Tiểu mễ thảo (bán ký sinh)
    * Gentrya
    * Gerardiina
    * Gleadovia
    * Graderia
    * Harveya
    * Hyobanche
    * Kopsiopsis
    * Lamourouxia
    * Lathraea: Xỉ lân thảo (cỏ răng vẩy cá)
    * Leptorhabdos
    * Macranthera
    * Mannagettaea: Đậu liệt đương
    * Melampyrum: Sơn la hoa (bán ký sinh)
    * Melasma
    * Micrargeria
    * Monochasma
    * Necranthus
    * Nesogenes
    * Nothochilus
    * Odontites: Liệu xỉ thảo (bán ký sinh)
    * Omphalotrix
    * Ophiocephalus
    * Orobanche: Cỏ chổi, lệ dương, liệt đương
    * Orthocarpus: Trực quả thảo (bán ký sinh)
    * Parentucellia (bán ký sinh)
    * Pedicularis: Mã tiên hao, cỏ Louse (bán ký sinh)
    * Phacellanthus: Hoàng đồng hoa
    * Phelypaea (bán ký sinh)
    * Phtheirospermum
    * Physocalyx
    * Platypholis
    * Radamaea
    * Rhamphicarpa
    * Rhaphispermum
    * Rhinanthus: Tị hoa (bán ký sinh)
    * Schwalbea
    * Seymeria
    * Silviella
    * Siphonostegia
    * Sopubia
    * Striga
    * Tetraspidium
    * Tienmuia
    * Tozzia
    * Triphysaria?: Trực quả thảo
    * Xylanche: Đinh tọa thảo
    * Xylocalyx

Giá trị kinh tế

Không có, trừ một số vùng ôn đới ấm thường kí sinh, chúng gây bệnh cho cây trồng làm giảm năng suất của cây trồng.

PHÂN LOẠI KHOA HỌC
Giới: Thực vật
Ngành: Magnoliophyta
Lớp: Magnoliopsida
Bộ: Lamiales

CÁC CHI
Aeginetia
Centranthera
Christisonia

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2022