Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > THẢM THỰC VẬT VIỆT NAM

Một số kết quả bước đầu về sự thay đổi trạng thái thảm thực vật theo độ cao ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên - tỉnh Lào Cai

Cập nhật ngày 14/12/2009 lúc 3:36:00 PM. Số lượt đọc: 1655.

Sự hình thành và phát triển của thảm thực vật chịu tác động của nhiều yếu tố trong đó các yếu tố thuộc về địa hình, ngoại mạo, khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn đóng vai trò là các nhân tố phát sinh thảm thực vật. Các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và chế độ gió lại có sự phân hóa theo vĩ độ và độ cao địa hình. Do đó, sự thay đổi về độ cao địa hình sẽ có ảnh hưởng rõ nét đến các đặc điểm cấu trúc thảm thực vật và ở mỗi đai độ cao khác nhau thường có các thảm thực vật đặc trưng

Vườn Quốc gia Hoàng Liên trải dài từ độ cao hơn 300m (khu vực Bản Hồ) đến hơn 3000m (đỉnh Phansipăng cao 3143m) nên các điều kiện khí hậu có sự phân hóa rất rõ nét theo các đai độ cao khác nhau từ đó dẫn đến các thảm thực vật cũng phân hóa sâu sắc theo các đai độ cao. Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu về “Sự thay đổi các kiểu thảm thực vật theo độ cao ở Vườn Quốc gia (VQG) Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai” để làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái ở địa danh nổi tiếng này. Bài viết này công bố những kết quả nghiên cứu bước đầu về sự thay đổi các trạng thái thảm thực vật theo độ cao ở VQG Hoàng Liên trên cơ sở những dẫn liệu thu được từ những đợt khảo sát trong thời gian từ năm 2004 đến 2007 của nhóm tác giả.

Phương pháp nghiên cứu

Việc phân chia đai độ cao ở VQG Hoàng Liên được áp dụng theo quan điểm phân đai tự nhiên của Vũ Tự Lập (2006) và quan điểm sinh thái phát sinh của Thái Văn Trừng (1999) và căn cứ trên các điều kiện tự nhiên thực tế của khu vực nghiên cứu. Quy trình điều tra nghiên cứu thực địa áp dụng theo phương pháp được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong Cẩm nang nghiên cứu Đa dạng sinh vật (1997) bao gồm các bước: Xác định tuyến nghiên cứu và điểm nghiên cứu, lập các ô tiêu chuẩn để tiến hành khảo sát chi tiết tại các quần xã thực vật chính, vẽ lát cắt đứng và xây dựng bản mô tả cho từng ô. Các mẫu vật thu thập trong quá trình thực địa được phân tích, xử lý và định loại trong phòng thí nghiệm để phục vụ cho công tác nghiên cứu cũng như lưu trữ. Các mẫu vật hiện được bảo quản tại Bảo tàng Thực vật của Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN (VNU) và Bảo tàng của VQG Hoàng Liên. Việc mô tả và hệ thống các kiểu thảm thực vật được dựa theo khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã được Phan Kế Lộc áp dụng vào Việt Nam (1985) trên cơ sở những ghi chép thực địa và mô tả các ô tiêu chuẩn.

Kết quả và thảo luận

Khát quát sự phân đai độ cao ở VQG Hoàng Liên

Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia đai độ cao, mỗi tác giả đều theo một quan điểm, cơ sở khác nhau, do đó kết quả có sự chênh lệch. Mặt khác không có một ranh giới chuẩn mực nào về thảm thực vật cũng như các điều kiện tự nhiên khác ở bất kỳ một khu vực nào để có thể nhận ra được đó là ranh giới giữa các đai do đó những phân chia của các tác giả đều mang tính tổng quát. Dựa theo quan điểm phân đai tự nhiên của Vũ Tự Lập (2006) và quan điểm sinh thái phát sinh của Thái Văn Trừng (1999) và căn cứ trên các điều kiện tự nhiên thực tế của khu vực nghiên cứu, chúng tôi chia Vườn Quốc gia Hoàng Liên thành 4 đai độ cao để nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc thảm thực vật theo các đai độ cao khác nhau làm cơ sở cho các nghiên cứu đi sâu vào sinh thái thực vật sau này. Đó là các đai:

Đai khí hậu nội chí tuyến gió mùa chân núi: Độ cao dưới 700m, tổng số giờ nắng trung bình đạt 1573,4 giờ, tổng nhiệt hằng năm đạt khoảng 8000-8500oC. Lượng mưa trung bình là 1600mm/năm. Biên độ nhiệt trung bình năm nhỏ hơn 7-9oC, chênh lệch nhiệt độ tháng 1 và tháng 7 là 12,4oC. Nhiệt độ trung bình mùa đông là 16,4oC, nhiệt độ cực đại năm được ghi nhận vào tháng 5 đạt 40,2oC và cực tiểu vào tháng 1 đạt 1,4oC.

Đai khí hậu á chí tuyến gió mùa trên núi 700-1600m, gồm 2 á đai:

Á đai 700-1000m: tổng số giờ nắng trung bình đạt 1540 giờ, tổng nhiệt hằng năm đạt khoảng 6200-8000oC. Lượng mưa trung bình là 1833mm/năm. Biên độ nhiệt trung bình năm là 7oC, chênh lệch nhiệt độ tháng 1 và tháng 7 là 12,9oC. Nhiệt độ trung bình mùa đông là 12,7oC, thấp hơn vùng một là 3,7oC. Nhiệt độ cực đại năm được ghi nhận vào tháng 5 đạt 34,3oC và cực tiểu vào tháng 3 đạt -3,5oC. Đây là á đai mang tính chất chuyển tiếp.

Á đai 1000-1600m: đây là á đai mang tính chất á chí tuyến điển hình trên đất mùn vàng đỏ. Tổng số giờ nắng trung bình khoảng 1511 giờ, tổng nhiệt hàng năm đạt 6000-6200oC, lượng mưa trung bình năm trên 2000mm.

Đai khí hậu á chí tuyến gió mùa trên núi 1600-2600m: Độ ẩm trung bình năm cao đạt 86%. Tổng số giờ nắng trung bình năm giảm xuống còn 1471,8 giờ, tổng nhiệt trung bình năm đạt khoảng 4500-6000oC. Lư­ợng mưa trung bình năm đạt 3550mm. Nhiệt độ trung bình năm đạt 12,7 oC, nhiệt độ trung bình mùa đông đạt 9,4oC, nhiệt độ tối cao trong năm đạt 29,2oC, nhiệt độ tối thấp trong năm đạt -3,5oC, biên độ nhiệt giữa tháng nóng nhất (tháng 7) và tháng lạnh nhất (tháng 1) là 13,1oC. Đây là đai chuyển tiếp từ khí hậu á nhiệt đới lên đai ôn đới.

Đai khí hậu ôn đới gió mùa trên núi: Đai cao trên 2600m, tổng số giờ nắng trung bình đạt 1525 giờ/năm, tổng nhiệt hằng năm dưới 4500oC. Lượng mư­a trung bình đạt trên 2500mm/năm. Nhiệt độ trung bình năm đạt 7,8oC, nhiệt độ tối cao trong năm đạt 24,4oC, nhiệt độ tối thấp trong năm đạt -5,7oC, biên độ nhiệt giữa tháng nóng nhất (tháng 7) và tháng lạnh nhất (tháng 1) là 7,7oC.

Tuy vậy, theo chúng tôi việc phân đai này chưa hoàn toàn là tối ưu bởi khoảng chênh lệch độ cao trong cùng một đai còn lớn mà trong khoảng đó, thảm thực vật có thể đã có những sự phân hóa hơn nữa. Vì thế, để có thể đánh giá một cách chính xác sự phân hóa thảm thực vật theo độ cao cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn theo các đai với khoảng cách chênh lệch nhỏ hơn so với sự phân đai trong nghiên cứu này.

Sự thay đổi trạng thái thảm thực vật theo độ cao ở VQG Hoàng Liên

Đai độ cao dưới 700m

Đây là đai độ cao thuộc đai khí hậu nội chí tuyến gió mùa chân núi. Về lý thuyết với đặc điểm địa hình, địa chất và khí hậu ở đây thì có thể có kiểu rừng kín nhiệt đới thường xanh gió mùa trên núi thấp với 3 hoặc 4 tầng tán và ưu thế là các loài cây gỗ thuộc các họ như Lauraceae, Magnoliaceae…nhưng do sự khai thác và chặt phá của con người để phục vụ các nhu cầu của mình như lấy gỗ, trồng ngô, lúa, thảo quả… nên ở độ cao dưới 700m của VQG Hoàng Liên không còn kiểu rừng này với tính chất nguyên thủy của nó mà thay vào đó là các trạng thái rừng thứ sinh hay thảm nhân tác và thường chỉ có tối đa 2 tầng cây gỗ. Các cây gỗ có chiều cao trung bình khoảng 11m nhưng đôi khi có thể gặp những cây gỗ cao tới khoảng 25m. Đây có thể là những cây còn sót lại của rừng nguyên sinh trước kia.

Kiểu thảm thực vật của đai này bao gồm: rừng nhiệt đới thường xanh gió mùa trên núi thấp cây lá rộng (trạng thái thứ sinh), rừng tre (trong đó tre nứa có thể mọc thuần loại hoặc mọc xen kẽ với cây gỗ), trảng cây bụi và trảng cỏ nhiệt đới. Các đại diện cây gỗ là các loài của họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), Trẩu núi (Vernicia montana), Sòi tía (Triadica conchinchinensis), Vối thuốc (Schima wallichii), An tức (Alniphyllum sp.), Thôi chanh (Alangium sp.), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Bời lời (Litsea spp.), Linh (Eurya spp.),… Bên cạnh đó do sự tác động của con người nên ở đai độ cao dưới 700m có sự xuất hiện khá phổ biến kiểu rừng tre nứa mọc thuần loại hoặc mọc xen với các cây gỗ khác. Một số loài tre nứa đặc trưng bao gồm: Tre lịm (Melocalamus compactiflorus), Trúc cần câu (Bambusa multiplex), Mạy sang (Dendrocalamus sericeus), Nứa (Neohouzeanua dulloa), Nứa tép (Schizostachyum aciculare), Tre xiêm (Phyllostachys pubescens), Sặt tàu (Sinarundinaria griffithiana)…

Đai độ cao từ 700m đến 1600m

Đai này thuộc đai khí hậu á chí tuyến gió mùa trên núi, á đai á nhiệt đới. Chính điều này mang lại cho thảm thực vật rừng nhiều điều kiện để phát triển nhưng trên thực tế thì đây cũng là đai bị con người tàn phá nặng nề để trồng thảo quả - nguồn thu nhập lớn của đồng bào địa phương. Tuy vậy, tại một số ngọn núi thuộc đai này mà điều kiện đi lại khó khăn thì rừng vẫn chưa bị khai thác hết nên thực vật phát triển khá tốt hình thành nên các kiểu rừng kín có cấu trúc 2 hoặc 3 tầng cây gỗ ở đai độ cao này. Kiểu thảm thực vật của đai này bao gồm rừng nhiệt đới thường xanh gió mùa trên núi thấp cây lá rộng hoặc hỗn giao cây lá rộng - cây lá kim, rừng tre, trảng cây bụi và trảng cỏ nhiệt đới. Một số loài thực vật đặc trưng là các đại diện thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), Sặt tàu (Sinarundinaria griffithica), Vối thuốc (Schima wallichii), Linh (Eurya spp.), Thảo quả (Amomum aromaticum), Râu ông lão (Clematis lechenaultiana), An bích tro (Osbeckia cinerea), Gan tiền (Gaultheria sp.), (Hedychium coronarium), Mua núi (Oxyspora paniculata), Tràng quả (Desmodium sequax)…Trong đó sặt gai vòng là loài khá đặc trưng và phổ biến ở VQG Hoàng Liên. Các loài hạt trần phổ biến ở đai này là Thông tre (Podocarpus neriifolius), Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia) và Thông đỏ nam (Taxus wallichianus)…

Đai độ cao từ 1600m đến 2600m

Ở đai độ cao này mức độ tác động của con người đến rừng giảm đi nhiều do mức độ hiểm trở của địa hình tăng lên làm cho đi lại khó khăn vì vậy nhiều mảnh rừng vẫn được bảo vệ tốt và được giữ ở trạng thái khá nguyên vẹn với cấu trúc 2 đến 3 tầng mặc dù vẫn thuộc trạng thái rừng á nhiệt đới bởi đây là đai độ cao thuộc đai khí hậu á chí tuyến gió mùa trên núi, á đai á ôn đới. Các kiểu thảm thực vật của đai này bao gồm: rừng nhiệt đới thường xanh gió mùa trên núi trung bình cây lá rộng, rừng nhiệt đới thường xanh gió mùa trên núi trung bình hỗn giao cây lá rộng - cây lá kim, trảng trúc, trảng cây bụi và các trảng cỏ á nhiệt đới. Các loài thực vật đặc trưng là Dạ hợp cát cát (Alcimandra cathcarthii), Hồ mộc tây tạng (Huodendron tibeticum), Thích (Acer spp.), các loài thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae) như Rhododendron tanastylum, R. arboreum, R. lyi, R. delavayi, R. klossii, Côm (Elaeocarpus spp.), Hồi (Illicium spp.), Long não (Lauraceae), Dẻ (Fagaceae), Trèn (Ternstroemia spp.), Pơmu (Fokienia hodginsii), Hồng quang (Rhodoleia championii), Giổi (Michelia spp.), Tiết trục phún (Arthraxon hispidus), Trúc bụi (Sinarundinaria petelottii), Bời lời (Litsea spp.), Hoàng Liên gai (Berberis spp.), Cói túi bao đen (Carex altrivaginata), Râu ông lão núi (Clematis montana), Dung (Symplocos sp.), Bùi (Ilex sp.), Linh (Eurya sp.) và các đại diện của họ Hoa hồng (Rosaceae)… Ở các kiểu trảng có thể gặp Guột xanh (Pteridium aquilinum), Choóc bảy lá (Arisaema erubescens), Vối thuốc (Schima wallichii), Thảo quả (Amomum aromaticum), Mua núi (Oxyspora paniculata)… trong đó Vối thuốc, Thảo quả và Mua núi là những loài thường gặp nhất trong các trạng trái rừng thứ sinh và các trảng cỏ thời kỳ hậu Pơ mu ở độ cao dưới 2000m. Ở độ cao trên 2000m, thân cây có nhiều dạng thực vật sống bì sinh, rêu, dương xỉ, một số dạng Lan…Đây là những dấu hiệu chứng tỏ thảm thực vật đai này còn khá nguyên vẹn, ít chịu sự tác động của con người

Đai độ cao trên 2600m

Do các đặc điểm về điều kiện thổ nhưỡng, địa hình và khí hậu thuộc đai khí hậu ôn đới gió mùa trên núi nên ở độ cao trên 2600m (cho đến đỉnh cao nhất là 3143m) rừng có xu hướng giảm dần, chiều cao của cây cũng giảm xuống, thảm thực vật chuyển từ dạng á nhiệt đới núi thấp tầng trên sang dạng á nhiệt đới núi vừa tầng dưới và thảm thực vật có bản chất gần giống với thực vật ôn đới (ở vĩ độ cao). Ở đai độ cao này do đi lại khó khăn và trữ lượng gỗ không nhiều bởi chủ yếu là các cây gỗ nhỏ nên thảm thực vật được bảo vệ khá tốt và mang tính chất nguyên sinh nhất trong số các thảm thực vật ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên, kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng - cây lá kim còn khá nguyên vẹn. Kiểu thảm thực vật của đai độ cao này bao gồm: rừng nhiệt đới thường xanh tương đối ẩm núi cao cây lá rộng, rừng nhiệt đới thường xanh tương đối ẩm núi cao hỗn giao cây lá rộng - cây lá kim, trảng trúc, trảng cây bụi, trảng cỏ á nhiệt đới chịu hạn trên đường đỉnh. Đây là những kiểu thảm thực vật được hình thành trong những điều kiện đặc biệt của địa hình, khí hậu. Các loài thực vật đặc trưng cho đai độ cao này là các loài thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae), Kiết (Carex sp.), Hồng quang (Rhodoleia championii), Hồi (Illicium sp.), Trúc bụi (Sinarundinaria petelottii), Hoàng liên gai (Berberis spp.), Cói túi bao đen (Carex altrivaginata), Bời lời (Litsea spp.), Dung (Symplocos spp.), Bùi (Ilex spp.), Linh (Eurya spp.), các đại diện của họ Hoa hồng (Rosaceae), Thiết sam (Tsuga dumosa), Vót lá tim (Viburnum cordifolium)… và các loài trúc như Trúc phansipăng (Chimonobambusa fansipanensis), Trúc đũa (Bashania fansipanensis), Trúc tăm (Borinda fansipanensis)…

Kết luận

Thảm thực vật Hoàng Liên có sự biến đổi theo 04 đai độ cao: đai dưới 700m, đai từ 700m - 1600m, đai 1600m-2600m và đai trên 2600m. Trong đó á đai từ 1000m-1600m là đai á nhiệt đới điển hình còn á đai 700m-1000m và đai 1600m-2600m là các đai chuyển tiếp. Trạng thái thảm thực vật biến đổi theo độ cao: trạng thái nguyên sinh chỉ gặp ở đai độ cao trên 1600m, gồm cả rừng và trảng nguyên sinh. Các trạng thái thứ sinh và rừng trồng gặp nhiều ở đai độ cao dưới 2600m, không gặp ở độ cao trên 2600m. Ở trên 2900m chỉ còn các trảng trúc, trảng cỏ và không còn các trảng cây bụi hay các trạng thái rừng

Tài liệu tham khảo

1.     Brummitt R. K., 1992: Vascular Plant Families and Genera, Kew Royal Botanic Gardens
2.     Brummitt R. K., C. E. Powell, 1992: Authors of Plant Names, Kew Royal Botanic Gardens .
3.     Hoàng Chung, 2005: Quần xã học thực vật. NXB. Giáo dục, Hà Nội. 219 trang.
4.     Claude Hamel, 2002: Conservation de la Biodiversité, Université du Québec Montréal - Musée canadien de la nature.
5.     Phan Kế Lộc, 1985: Tạp chí Sinh học, 7(4): 1-5.
6.     Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Hà Văn Tuế, Lê Đồng Tấn, Trịnh Minh Quang, 1996: Tạp chí Lâm nghiệp, 4+5: 7-9.
7.     Vũ Anh Tài, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007: Tạp chí Sinh học, 29(4): 27-30.
8.     Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997: Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật. NXB. Nông nghiệp, Hà Nội, 223 trang.
9.     Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004: Hệ sinh thái rừng nhiệt đới. NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 248 trang.
10.  Thái Văn Trừng, 1995: Thảm thực vật rừng Việt Nam. NXB. Nông nghiệp, Hà Nội. 19-21.

Nguyễn Nghĩa Thìn, Trương Ngọc Kiểm
Trường ĐH KHTN - ĐHQGHN
Vũ Anh Tài
Viện Địa lý - Viện KH&CN Việt Nam

(Tuyển tập báo cáo Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 3, 22/10/2009 - Viên ST&TNSV - Viện KH&CN Việt Nam)

anhtai.bvn

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO

CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2022