Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > PHÁT HIỆN MỚI

Bổ sung một loài thuộc chi Rungia Nees (họ Ô rô - Acanthaceae) cho hệ thực vật Việt Nam

Cập nhật ngày 16/5/2010 lúc 11:47:00 PM. Số lượt đọc: 889.

Trong quá trình nghiên cứu các tài liệu và so sánh các mẫu vật của chi Rungia Nees được lưu trữ ở các phòng tiêu bản thực vật, lần đầu tiên chúng tôi đã phát hiện được loài Rungia chinensis Benth. có ở Việt Nam

Trên thế giới, chi Rungia Nees (Acanthaceae) có khoảng 50 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới. Benoist R. (1935) đã công bố và mô tả 6 loài thuộc chi này ở Đông Dương và Thái Lan, trong đó Việt Nam có 4 loài [5]. Theo Trần Kim Liên, 2005, ở Việt Nam, chi này có 5 loài [2]. Tuy nhiên, loài Rungia parviflora Nees hiện nay đã trở thành tên đồng nghĩa của loài R. spectinata Ness nên chi này ở nước ta chỉ có 4 loài. Đây thường là các loài hiếm gặp, trừ R. spectinata Ness phân bố trên cả nước.

Trong quá trình nghiên cứu các tài liệu và so sánh các mẫu vật của chi Rungia Nees được lưu trữ ở các phòng tiêu bản thực vật của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN), Viện Dược liệu (HNPM), Viện Sinh học nhiệt đới tại thành phố Hồ Chí Minh (HM), trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội (HNU), trường đại học Dược Hà Nội (HNIP), Viện Điều tra Quy hoạch rừng (HNF) cùng thamkhảo các mẫu vật thuộc họ Ô rô (Acanthaceae) được lưu giữ tại các Phòng tiêu bản thực vật của Viện Thực vật Côn Minh, Trung Quốc (KUN), Viện Thực vật Quảng Tây, Trung Quốc (KIB), lần đầu tiên chúng tôi đã phát hiện được loài Rungia chinensis Benth. có ở Việt Nam. Các mẫu vật được Lê Đồng Tấn và cs. thu tại vườn quốc gia Bì Đúp, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng và hiện được lưu trữ tại phòng tiêu bản thực vật của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN).

Trong bài báo này, chúng tôi mô tả bổ sung loài mới này cho hệ thực vật Việt Nam, đưa tổng số loài của chi Rungia Nees đã biết ở Việt Nam lên 5 loài.
Để có công bố này, chúng tôi đã áp dụng phương pháp nghiên cứu so sánh hình thái phân loại. Mẫu vật của Việt Nam đã được so sánh với các mẫu vật chuẩn của Trung Quốc. Dưới đây là đặc điểm của loài mới được phát hiện ở Việt Nam.

Khóa định loại các loài trong chi Rungia Nees đã biết ở Việt Nam

1A. Quả có lông.

2A. Lá hình trứng rộng hay trứng thuôn, dài từ 2 đến 4 cm. Lá bắc con có lông
ở mép ......................................................................................... 1. R. chinensis

2B. Lá hình bầu dục, dài từ 8 đến 12 cm. Lá bắc con không lông ở mép. …………
..................................................................................................... 2. R. pierrei

1B. Quả không có lông.

3A. Tràng dài 1 cm.

4A. Lá dài 1-3 cm. Đài dài 2-3 mm ..................................... 3. R. evrardii

4B. Lá dài 7-9 cm. Đài dài 4-5 mm.................................... 4. R. salacensis

3B. Tràng dài 0,6 cm .................................................................. 5. R. pectinata

Rungia chinensis Benth. - Rung trung quốc

Benth. 1861. Fl. Hongk. 266; Auctors, 1976. Icon. Corm. Sin. 4: 176. fig. 5766; Hsieh C. F. & Huang T. F. 1988. Fl. Taiw. 4: 676; Hu J. 2002. Fl. Reipubl. Pop. Sin. 70: 5; Ban Q. et al., 2004. Higher Pl. China, 10: 403. fig. 601.


Rungia chinensis
Benth.
1. cành mang hoa; 2. hoa; 3. lá bắc; 4. nhị; 5. bộ nhụy. (hình của Đ. T. Xuyến, 2007; vẽ theo mẫu NY-HN 726 - HN).

Cỏ cao tới 40 cm hay hơn. Thân mảnh, thường nằm rồi đứng, khi non có lông tơ màu trắng dày, thường có rễ ở đốt thân phía dưới. Lá hình trứng rộng hay trứng thuôn, có mũi; dài 2-4 cm, rộng 1-3 cm; gốc lá hẹp dần, nhọn; chóp lá có mũi nhọn hay tù; mép lá nguyên hay hơi lượn sóng; gân gốc 4-5 cặp; cả 2 mặt nhẵn, có lông rải rác trên gân; cuống lá dài 1-3 cm, có lông. Cụm hoa chùm thường ở đỉnh cành hay nách lá, chùm dài 3-6 cm, thường mang nhiều hoa, có lông. Lá bắc cái ngoài hình bầu dục thuôn hay trứng ngược thuôn dài, dài 0,8-1,0 cm, rộng 0,2-0,3(0,4) cm, có lông tơ mảnh rải rác ở mép. Lá bắc cái trong hình trứng ngược hay trứng ngược thuôn, dài 0,6-0,8 cm, rộng 0,3-0,4 cm. Lá bắc con hình trứng hay trứng rộng, dài 0,6-0,7 cm, rộng 0,4-0,5 cm, chóp tròn có mũi nhọn, mép có một vòng trong suốt, thường có lông tơ rải rác. Đài 5 thùy, dài 0,5 cm; thùy thường hình mũi giáo hẹp, có mũi nhọn dài, có lông. Tràng màu hồng hay trắng; ống tràng dài 0,6 cm, có lông tơ mịn; chia 2 môi, môi dưới 3 thùy, môi trên 2 thùy nhỏ như răng. Nhị 2, chỉ nhị dài tới 0,5 cm, có lông phủ dày ở phiá dưới, mang 2 bao phấn thường lệch. Vòi nhụy dài 1 cm, thường nhẵn; núm nhụy tù. Quả nang, hình trứng, dài 0,6 cm, có lông mịn. hạt gần hình cầu.

Loc. class.: China.

Sinh học và sinh thái: Cây ra hoa vào các tháng 9-11; có quả vào các tháng 10-12. Gặp mọc rải rác trong rừng, ở những nơi ẩm, ở độ cao 1500 m so với mặt nước biển.

Phân bố: Mới thấy ở Lâm Đồng (Lạc Dương: Bì Đúp). Còn có ở Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Đài Loan).

Mẫu nghiên cứu: Lâm Đồng, L. Đ. Tấn và cs., NY-HN 726 (HN).

Ghi chú: loài này mới chỉ được ghi nhận ở Đài Loan (Trung Quốc) và thường phân bố ở các khu rừng miền tây và tây nam, đặc biệt là các vùng núi Pingtung, Taitung và Hualien, nhưng cũng được nhấn mạnh đây là một loài hiếm gặp. Loài R. chinensis Benth. rất gần với loài R. pierrei Benoist bởi đặc điểm quả có lông, nhưng khác với loài R. pierrei Benoist bởi R. pierrei Benoist mang lá hình bầu dục, dài 8-10 cm, lá bắc con không có lông ở mép; còn    R. chinensis Benth. mang lá hình trứng, dài 2-4 cm, lá bắc con có lông ở mép.

Loài R. chinenksis Benth. rất giống với loài  R. tonkinensis R. Ben. [5] nhưng khác với loài   R. tonkinensis R. Ben. bởi đặc điểm lá thường rộng hơn (tới 3 cm), lá bắc con thường ngắn hơn (thường 0,6-0,7 cm). Tuy nhiên, sự tồn tại của loài R. tonkinensis R. Ben. là chưa chắc chắn bởi R. tonkinensis R. Ben. được R. Benoist ghi nhận trong Fl. Gén. Indoch. 4: 759 [5], với ghi chú rõ ràng là loài này được công bố đầu tiên ở Notul. Syst. 1935 mà không chỉ rõ số tập và số trang. Tuy vậy, trong các tài liệu về Notul. Syst. xuất bản năm 1935 thì không có loài này. Tất cả các tài liệu nghiên cứu về sau đều ghi nhận loài R. tonkinensis R. Ben. được công bố đầu tiên trong Fl. Gén. Indoch., 1935 (Index Kewensis, 1995 hay The International Plant Names Index - IPNI, 2003). Như vậy, khi công bố loài này, R. Ben. đã không có phần mô tả bằng tiếng latinh, không chỉ ra mẫu typus. Vì đây là loài còn mang nhiều nghi ngờ nên đã không được đưa vào “Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 3” [2].

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Hoàng Hộ, 2000: Cây cỏ Việt Nam, 3: 30-82. Nxb. Trẻ, tp. Hồ Chí Minh.
2. Trần Kim Liên, 2005: Danh lục các loài thực vật Việt Nam, 3: 251-281. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
3. Auctors, 1976: Iconographia Cormophytorum Sinicorum, 4: 150-177. Beijing (in Chinese).
4. Auctors, 1978: Flora Hainanica, 3: 536-572. Science Press (in Chinese).
5. Benoist R., 1935: Flore Générale de l'Indo-Chine (H. Lecomte), 4: 610-772. Paris.
6. Clarke C. B., 1885: Flora of British India, 4: 387-554. London.
7. Ban Q. et al., 2004: Higher plants of China, 10: 329-416. Qingdao Publishing House, China (in Chinese).
8. Hsieh C. F. & Huang T. F., 1988: Flora of Taiwan, 4: 648-687. Taiwan.
9. Hu C. et al., 2002: Flora Reipublicae Popularis Sinicae, 70: 24-308. Science Press, Pekin (in Chinese).

Đỗ Thị Xuyến, Đỗ Văn Hài
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Tạp chí Sinh học 29(2)/6-2007

Anhtai.bvn

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO

CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2022