Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > HỆ THỰC VẬT

Thu hái và sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Tày ở khu vực Việt Lâm, Vị Xuyên, Hà Giang

Cập nhật ngày 17/2/2009 lúc 10:21:00 AM. Số lượt đọc: 3247.

Việt Lâm là một đơn vị hành chính thuộc huyện Vị Xuyên. Đây là vùng đồi núi thấp, thuân lợi cho việc phát triển nông nghiệp nhất là trồng các loại cây công nghiệp và là một trong hai huyện có tỷ lệ người Tày cư trú cao của tỉnh Hà Giang [1]. Tại đây có nhiều người làm nghề y học cổ truyền. Số lượng các lương y của xã chiếm khoảng 30% số hội viên hội đông y huyện Vị Xuyên. Là khu vực có hệ thực vật khá phong phú với số lượng loài lớn, đây cũng là khu vực thu hái cây thuốc thường xuyên của người dân

Mở đầu

http://pro.corbis.com/images/HT002987.jpg?size=67&uid=%7B40BD6C4A-8D91-4858-974B-87EDAEB86C9D%7D
Đảng sâm - Codonopsis javanica
Hình theo pro.corbis.com

Việt Lâm là một đơn vị hành chính thuộc huyện Vị Xuyên. Đây là vùng đồi núi thấp, thuân lợi cho việc phát triển nông nghiệp nhất là trồng các loại cây công nghiệp và là một trong hai huyện có tỷ lệ người Tày cư trú cao của tỉnh Hà Giang [1]. Tại đây có nhiều người làm nghề y học cổ truyền. Số lượng các lương y của xã chiếm khoảng 30% số hội viên hội đông y huyện Vị Xuyên. Là khu vực có hệ thực vật khá phong phú với số lượng loài lớn, đây cũng là khu vực thu hái cây thuốc thường xuyên của người dân. Cũng như các dân tộc khác trên lãnh thổ Việt Nam, người Tày ở Việt Lâm biết nhiều cây thuốc và có nhiều bài thuốc phục vụ cho khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Song dưới tác động của kinh tế, xã hội, không ít các kinh nghiệm truyền thống về sử dụng cây thuốc đã và đang có nguy cơ bị xói mòn. Thế hệ hậu sinh ít có nguyện vọng và gắn bó với y học truyền thống. Điều này dẫn đến sự mai một dần các tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc. Bên cạnh đó là sự mất đi của nhiều loài cây thuốc dưới tác động của con người. Trong tương lai sẽ có không ít loài cây thuốc trở nên khan hiếm hoặc có nguy cơ bị diệt chủng. Việc điều tra nghiên cứu, thu thập các kinh nghiệm hay, các bài thuốc quý và bảo tồn phát triển chúng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần làm hồi sinh các tri thức bị lãng quên và bảo vệ có hiệu quả nguồn tài nguyên cây thuốc.

Phương pháp và địa điểm nghiên cứu

Phương pháp: các phương pháp sử dụng trong điều tra gồm

- Các phương pháp thông thường để nghiên cứu thực vật được sử dụng ở nước ta.

- Phương pháp điều tra, thu thập tri thức và kinh nghiệm truyền thống bản địa: Sử dụng phương pháp điều ta thực vật dân tộc gồm phỏng vấn để lập danh lục tự do, điều tra thực địa thu thập mẫu vật và thảo luận khẳng định thông tin.

- Phương pháp nghiên cứu bảo tồn: xác định loài bảo tồn theo các tiêu chí: loài được xác định trong “Sách đỏ Việt Nam”, loài hiếm gặp tại địa phương, loài bị khai thác thường xuyên hoặc bị khai thác khối lượng lớn và là loài hợp với nguyện vọng phát triển của người dân.

- Xác định mô hình bảo tồn: Mô hình thích hợp cho người dân ở Vị Xuyên là vườn hộ và ưu tiên xây dựng mô hình tại vườn của các lương y.

Địa điểm nghiên cứu

Khu vực Việt Lâm gồm xã Việt Lâm và thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

Kết quả và thảo luận

Thành phần loài cây thuốc

Sau hai năm điều tra chúng tôi đã thu thập được thông tin và mẫu vật của hơn 400 loài cây thuốc mà người Tày ở Vị Xuyên thường xuyên thu hái, sử dụng và chữa bệnh. Qua tra cứu tài liệu “Từ điển cây thuốc Việt Nam”[2], “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”[3], “Cây cỏ Việt Nam”[4] và đặc biệt là sự giúp đỡ của một số chuyên gia phân loại thuộc phòng Thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, chúng tôi đã xác định được tên khoa học của 334 loài thuộc 104 họ thực vật. Những họ có số loài được sử dụng nhiều là Fabaceae (25 loài), Euphorbiaceae (19 loài), Asteraceae (18 loài), Rutaceae (12 loài), Solanaceae và Moraceae (11 loài). So sánh số lượng loài cây thuốc trên một đơn vị xã đã được chúng tôi nghiên cứu ở các dân tộc khác thì số lượng này là tương đối lớn. Ví dụ người Dao ở Tam Đảo sử dụng khoảng 500 loài, người Dao ở Bản Khoang sử dụng 350 loài, người H’mông ở Sa Pả sử dụng 250 loài, người Mường ở ChiềngYên sử dụng 198 loài, người Dao tiền ở Chiềng Yên chỉ sử dụng thường xuyên 165 loài cây thuốc. Trong quá trình điều tra chúng tôi  ghi nhận một số cây thuốc trước đây không có ở địa phương (Quế, Đỗ trọng…) nhưng nay được trồng và một số loài trước đây có nhưng hiện nay không phát hiện thấy trong tự nhiên (Cẩu tích, Bách hợp, Bách bộ…)

Thực trạng sử dụng cây thuốc

Với hơn 400 loài cây thuốc có trong địa bàn, người Tày đã sử dụng để điều trị các bệnh thường gặp, tạm thời được phân chia theo nhóm bệnh trong bảng sau (bảng 1)

Bảng 1: Phân nhóm cây thuốc theo bệnh chứng

 

TT

Nhóm bệnh

Số loài cây thuốc sử dụng

1

Xương khớp

74: - 16 loài: bó gãy xương

      - 58 loài: chữa các bệnh đau nhức xương khớp,    phong thấp

2

Thận, tiết niệu

54: - 46 loài chữa thận

      - 8 loài chữa các bệnh đường tiết niệu

3

Tiêu hoá

44

4

Cảm cúm

26

5

Các bệnh ngoài da

25

6

Bổ

21

7

Bệnh phụ nữ

20

8

Bệnh gan

12

9

Thanh nhiệt

9

10

Rắn cắn

8

11

Diệt ký sinh trùng

8

12

Ho

5

13

Các bệnh khác

34

Các dẫn liệu trong bảng cho thấy số cây thuốc để điều trị các bệnh về xương là nhiều nhất. Đây cũng là điều dễ hiểu đối với những cư dân sống ở vùng núi đi lại nhiều. Các nhóm bệnh thận, tiết niệu và tiêu hoá cũng sử dụng nhiều loài cây thuốc để điều trị. 

Ngoài sử dụng cây thuốc để chữa bệnh, một số cây thuốc như Bình vôi, Bảy lá một hoa, Bách bộ, Bách hợp, Ba kích… bị khai thác nhiều để cung cấp cho thị trường và bán sang Trung Quốc. Một số cây khác theo mô tả của các thầy lang thì trước đây gặp rất nhiều trong tự nhiên như cây Từ năm lá (thuộc họ Củ mài- Dioscoreaceae) có công dụng bổ dương, chống co thắt đại tràng thì nay rất ít gặp. Hiện nay cây này đã được đem về trồng tại vườn nhà. Ba kích, Bách hợp, Hoàng tinh hoa trắng, Hồi đầu thảo, Me rừng, Ngũ gia bì gai… cũng đã  khan hiếm. Cây dứa dại được dùng trong nhiều bài thuốc để chữa bệnh thận đã ít đi rất nhiều so với trước. Một số cây thuốc của vùng khác hoặc của dân tộc khác được các thầy lang đem về trồng như Quế, Đỗ trọng, cây găng cật… Phân tích thành phần loài và công dụng của cây thuốc ở Vị Xuyên chúng tôi nhận thấy không khác biệt so với tri thức chung đã biết. Cách sử  dụng nhiều loài cây thuốc trùng hợp với nhiều dân tộc khác như Lá khôi chữa đau dạ dày, Dứa dại, Mào gà chữa thận.

Trong danh lục lập được, một số loài cây thuốc có ở Vị Xuyên được Sách đỏ Việt Nam nhắc đến (Bảng 2). Đây là những loài hiếm hoặc đang ở trong tình trạng sẽ nguy cấp, đang nguy cấp, ít gặp, bị khai thác thường xuyên với khối lượng lớn [5]. Ở Vị Xuyên các loài này có gặp ở vùng núi xa dân cư, khó thu hái. Một số đã được đưa về trồng tại vườn nhà.

Bảng 2: Một số loài cây thuốc quý hiếm tại khu vực Việt Lâm

 

Tên phổ thông

Tên khoa học

Tình trạng

(Sách đỏ)

Hiện trạng ở VX

Bát giác liên

Podophyllum tonkinense

E

Ít gặp trong tự nhiên

Đẳng sâm

Codonopsis javanica

V

Tái sinh nhiều

Huyết đằng

Sargentodoxa cuneata

R

Ít gặp, ở nơi xa mới có

Hoàng đằng

Fibraurea recisa

V

Ít gặp trong tự nhiên

Khôi

Ardisia silvestris

V

Được trồng ở vườn nhà

Cốt khí củ

Reynoutria japonica

R

Được trồng ở vườn nhà

Hà thủ ô đỏ

Fallopia multiflora

V

Ít gặp trong tự nhiên, được trồng

Rau sắng

Melientha suavis

K

Ít gặp trong tự nhiên, được trồng

Táo mèo

Docynia indica

R

Ít gặp trong tự nhiên, được trồng

Ba gạc lá vòng

Rauvolfia verticillata

V

Ít gặp trong tự nhiên, được trồng

Ba kích

Morinda officinalis

K

Ít gặp trong tự nhiên, được trồng

Tô mộc

Caesalpinia sappan

T

Ít gặp trong tự nhiên.

Điều tra thu thập các bài thuốc dân tộc

Trong 2 năm chúng tôi đã điều tra thu thập được 30 bài thuốc thường được sử dụng để chữa các bệnh thường gặp trong cuộc sống hàng ngày. Trong một số ít bài thuốc có cả vị thuốc bắc nhưng tỷ lệ cây thuốc hoang dại vẫn chiếm đa số. Đa phần là các bài thuốc để bó gãy xương, chữa đau nhức xương khớp, một số bài chữa gan, thận, các bệnh đường tiêu hoá, bệnh phụ nữ…

Phương án bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc

Với sự hiểu biết và những kinh nghiệm sử dụng của nhiều người dân, cây thuốc ở Vị Xuyên chịu tác động lớn của con người. Đa phần cây thuốc được thu hái trong tự nhiên, nhưng nhiều người dân ở đây đã có ý thức bảo vệ  cây thuốc như thu hái có chọn lọc, ít làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây, tạo điều kiện để cây có khả năng tái sinh cao. Bên cạnh đó là việc xây dựng các vườn trồng cây thuốc tại nhà. Cây thuốc được đưa vào trồng phải thực sự hiếm gặp tại địa phương, những loài có trong Sách Đỏ, những loài bị khai thác thường xuyên, những loài bị khai thác với khối lượng lớn và một điều quan trọng đó là những loài phù hợp với tập quán sử dụng và nguyện vọng phát triển của người dân. Từ kinh nghiệm xây dựng vườn trồng cây thuốc của đồng bào người Dao, người Hmông ở Sa Pa, chúng tôi chọn gia đình các ông bà lương y để xây dựng vườn cây thuốc. Đây là mô hình vườn hộ gia đình. Tại vườn cây thuốc được bố trí trồng theo nhu cầu sinh thái, được chăm sóc, thu hái đúng thời kỳ.Trong các vườn này nhiều cây thuốc đã được tăng số lượng đáng kể, góp phần tăng thu nhập cho chủ vườn. Theo chúng tôi đây là mô hình cần nhân rộng không chỉ với người Tày ở Vị Xuyên mà còn với đồng bào nhiều dân tộc khác trên lãnh thổ Việt Nam.

Kết luận

Từ những kết quả thu được chúng tôi có những kết luận sau:

- Từ hơn 400 mẫu thu được, đã xác định được tên khoa học của 334 loài thuộc 104 họ thực vật.

- Người Tày ở Việt Lâm biết nhiều loài cây thuốc và có nhiều kinh nghiệm sử dụng cây thuốc để chữa bệnh. 74 loài cây thuốc được sử dụng để chữa các bệnh về xương, khớp; 54 loài chữa các bệnh về thận và tiết niệu; 44 loài chữa các bệnh về tiêu hoá…

- Đã thu thập được 30 bài thuốc để chữa các bệnh thường gặp.

- Mô hình vườn hộ gia đình là thích hợp cho người dân địa phương. Tại đây đã và đang bảo tồn và phát triển nhiều loài cây thuốc có giá trị. Đây là kiểu mô hình cần nhân rộng tại nhiều địa phương khác.

Tài liệu tham khảo

1. Lê Thông (chủ biên), 2003. Địa lý Hà Giang. Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam, tập 2. Các tỉnh vùng Đông bắc. Nxb Giáo dục tr. 104-140.
2. Võ Văn Chi, 1999. Từ điển cây thuốc Việt Nam. Nxb Y học. 1468tr.
3. Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương et al., 2004. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 1, 1138 tr; tập 2, 1255 tr. Nxb. KH&KT, Hà Nội.
4. Phạm Hoàng Hộ, 2000. Cây cỏ Việt Nam, tập I, 991tr; tập II, 953tr; tập III, 1020 tr. Nxb Y học.
5. Bộ khoa học, công nghệ và môi trường, 1996. Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật. Nxb KH&KT, Hà Nội. 484tr.
Công trình có sự hỗ trợ của Dự án bảo tồn cây thuốc dân tộc và chương trình NCCB trong KHTN.

Nguyễn Thị Thuỷ, Lưu Đàm Cư, Phạm Văn Thính, Bùi Văn Thanh
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Thanh.bvn

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO

CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2022