Một số đặc điểm cấu trúc rừng họ Sao dầu Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát, Tây Ninh

Tính đến nay có rất nhiều cách phân loại thảm thực vật rừng vùng Lò Gò - Xa Mát. Ở đây, chúng tôi tạm nêu ra một số tác giả và quan điểm của họ để tham khảo và so sánh

Trước tiên theo phân loại của Hans Lamprecht 1989, rừng Lò Gò - Xa Mát thuộc “Kiểu rừng rụng lá khô đất thấp (Dry deciduous lowland forest) và bán rụng lá (semi deciduous) với 6 tháng khô và 6 tháng mưa”. Trong khi đó, nếu căn cứ vào lượng mưa trung bình 1800mm đặc trưng cho khí hậu bán ẩm khô (theo M Schmid,1974) với số ngày mưa có thể đo được J= >=130 và P > 1500mm, và trong với kiểu khí hậu bán khô hạn và nóng J= 70-110 P< 1500mm, với P: là lượng mưa (mm), J : số ngày có lượng mưa đo được thì rừng tại Tây Ninh theo Schmid là rừng rậm rụng lá với các loài ưu thế: Vitex, Anogeissus, Dipterocarpaceae, Leguminosae, Lagerstroemia trên đất cát hay phù sa cổ. Như vậy có thể tạm xếp đặt Lò Gò - Xa Mát nằm trong khoản kiểu “khí hậu bán ẩm khô và bán khô hạn và nóng”. Gần đây nhất tác giả Phạm Phú Bông (1990) của Viện Địa lý và Tài nguyên thiên nhiên cũng đã có nêu một số kiểu phân loại trong việc sử dụng ảnh viễn thám.

Phương pháp nghiên cứu quần xã thực vật

Để xác định cấu trúc các kiểu quần xã thực vật tại Vườn Quốc gia (VQG) Lò Gò - Xa Mát chúng tôi tiến hành đo đếm theo phương pháp: Ô tiêu chuẩn vệ tinh (Satelite plot) Theo (Zoehrer 1980) và (R. Mitloehner 1990) có cải tiến.

  • Tổng diện tích đo đếm : 0,2ha = 4 x 500 m².
  • Mỗi cạnh là 10 x 50m.
  • Đường kính Ô tiêu chuẩn 134m.
  • Mỗi cạnh có 5 ô A kích thước 10 x 10m : trong đó đo đếm toàn bộ cây có đường kính 1,3m D>= 10cm.
  • Ô B chọn ra 3 ô 5 x 5m ( 300m²) đo cây có D1,3 từ 0 cm đến 1,3 m chiều cao D1,3 < 10cm.
  • Ô C 2 x 2m đo đếm tái sinh, cây có chiều cao >= 0,3m đến <= 1, 3m có ghi chú tái sinh chồi hay hạt.

Trong ô ghi nhận chiều cao dưới tán và chiều cao cả cây, đường kính tán lá max và min (dựa theo Dawkins 1959-1963) và các đặc điểm về sinh dạng khác.

Các số liệu ghi nhận sẽ được dùng để tính toán các chỉ số như sau:

  1. Độ thường gặp (ĐTG) = Số ô có loài (i) xuất hiện/tổng số ô x 100
  2. Mật độ (MĐ) = Tổng số của loài (i)/tổng số các loài x 100
  3. Độ ưu thế loài (ĐƯT%) = Diện tích gốc của loài (i)/tổng diện tích gốc ô tiêu chuẩn x 100
  4. Độ nhiều của loài (i)/Tổng số chiếm trong các ô x 100

Chỉ số quan trọng IV (Importance value index) = ĐTG + MĐ + ĐƯT.


Ngoài ra để xác định mức độ đa dạng của loài chúng tôi còn sử dụng các chỉ số đa dạng như:

- Chỉ số Simpson

- Chỉ số Shannon-Wiener (H’).

Để đánh giá mức độ giống và khác nhau của 2 nơi nghiên cứu chúng tôi sử dụng

- Chỉ số tương đồng (Ks, coefficient of similarity) của Sorensen (1948)

Trên lâm phần của VQG Lò Gò - Xa Mát chúng tôi đã tiến hành đo đếm khảo sát vào cả mùa khô và mưa (2005-2006-2007). Đây là một phần của báo cáo nghiên cứu đa dạng sinh học VQG Lò Gò - Xa Mát tiến hành trong các năm 2005-2007 do Viện Sinh học nhiệt đới chủ trì.

Kết quả và phân tích

Trong quá trình điều tra các kiểu rừng có họ Sao Dầu xuất hiện thì theo kiểu phân loại thảm thực vật của H. Lamprecht 1989 có tham khảo của GIS/ACRS 1990 và Phạm Phú Bông (Viện Địa lý và Tài nguyên thiên nhiên, VKHTNCNQG). Nếu như vậy tại VQG có 2 kiểu chính là:

- Rừng bán thường xanh (Semi-Evergreen Forest) hay rừng nửa rụng lá (semi decidous)

- Kiểu rừng thưa ưu thế họ Sao dầu rụng lá (Deciduous Dipterocarp Woodlands, rừng khộp)

Rừng bán thường xanh (Semi-Evergreen Forest) hay rừng nửa rụng lá (semi decidous)

Kiểu rừng bán thường xanh tại Việt Nam là một sự mở rộng từ phía Thái Lan, Lào và Campuchia. Kiểu rừng này được đặc trưng bởi cấu trúc nhiều tầng và sự phát triển của nhóm dây leo. Thành phần loài tầng tán rừng các loài thực vật thường xanh hay rụng lá trong khi lượng mưa trung bình hàng năm là từ 1.200-2.000 (2.500) mm với 3-6 tháng khô. Tương tự như vậy gần đây nhất (2003-2007) theo GS TS Phan Kế Lộc và cs. cũng đã có những nghiên cứu tại VQG, do vậy chúng tôi tạm sử dụng phân loại theo các tác giả đã nêu trên để thống nhất danh pháp trong bài viết. Kiểu rừng nguyên sinh và thứ sinh thường xanh cây lá rộng theo mùa trên đất phù sa sông suối

Ô tiêu chuẩn LGXM 03 (LGXM 03” lat=11.5881611111, long=105.886271102)

Ô được đặt tại khu vực trạm Đa Ha, nơi quy hoạch là rừng giống cây lâm nghiệp, với sự xuất hiện khá nhiều loài Dầu song nàng có mật độ khá tập trung với 250c/ha, tuy nhiên sự phân bố này chỉ tập trung trên một diện tích và địa điểm nhất định, không thấy ở nơi khác (có thể do điều kiện đất đai, do khai thác...). Sự đa dạng có thể nhận thấy như sau:

Tầng cây bụi dây leo khá phong phú bao gồm một số loài như: Pothos cf. scandens L.- Ráy leo,Zingiber sp.,Calamus sp., Smilax sp., Ancistrocladus sp.,Grewia paniculata Roxb .ex DC, Streblus asper Lour., Ixora coccinea L.,Canthium sp., Stephania sp., Cyclea peltata (Lamk.) Hook. & Thomps., Pterospermum diversifolium Bl., Dalbergia sp., Uvaria rufla Bl., Milletia sp., Indorouchera contestiana (Pierre) Hall.f…Tái sinh tự nhiên có thể ghi nhận gồm các loài với mật độ trong ô như sau Trigonostemon gaudichaudii (10), Zingiber sp. (7), Streblus ilicifolia (2), Lagerstroemia calyculata (2), Garcinia sp. (2), Calamus sp. (3), Dipterocarpus dyeri (3), Ixora coccinea (2). Lâm phần đang giai đoạn ổn định.

Ô tiêu chuẩn LGXM 05 (Lò Gò) (LGXM 05" lat=11.5356753588, lon=105.888634142)

Trái với kiểu rừng trên, tại khu vực trạm Lò Gò, sau quá trình khai thác chọn vào những năm 1980, lâm phần đang có diễn thế phục hồi qua sự hiện diện của nhiều loài tiên phong xuất hiện trong quá trình vỡ tán do khai thác những năm trước như: Grewia paniculata, Peltophorum dasyrrachis, Wrightia pubescens… Đây là những loài xuất hiện trong điều kiện ánh sáng đầy đủ và liên tục, độ che phủ tán rừng bị mất hay vỡ. Điều lý thú của khu vực này là quá trình diễn thế đang diễn ra rất rõ khi một số loài thuộc nhóm tiên phong (pioneer) đang chết một cách tự nhiên “hoàn thành” giai đoạn đầu của quá trình phục hồi tự nhiên. Số liệu phân tích về thành phần một số loài tiên phong thường gặp chiếm ưu thế trong kiểu rừng này như cao nhất là loài Thành ngạnh Cratoxylon formosum (Jack.) Dyer. với 27 cá thể trong ô đo đếm, kế đến là loài Lim sóng không lông hay Lim vàng Peltophorum dasyrrachis (Miq.) Kurz. đây cũng là loài tiên phong tiêu biểu vùng Đông Nam Bộ.


Bên cạnh đó nếu so sánh tỷ lệ cây tiên phong và loài có nguồn gốc rừng nguyên sinh cho thấy nhóm tiên phong có cấp kính khá cao D với Peltophorum dasyrrachis (Miq.) Kurz.(24 ,8cm), Grewia paniculata Roxb ex DC. (13,7cm), trong khi nhóm có nguồn gốc rừng nguyên sinh như : Sindora siamensis Teysm. ex Miq. var siamensis (19,7cm) hay Shorea roxburghii G.Don. (19cm) lại có D khá thấp (xem bảng 6). Có thể giả thuyết những loài có nguồn gốc rừng nguyên sinh tái sinh từ hạt hay chồi sau khai thác. Riêng đường kính cao nhất lại thuộc về loài Peltophorum dasyrrachis, một loài hoàn toàn có nguồn gốc tiên phong với D= 79,8 cm, điều này một lần nữa kiểm chứng quan điểm đây là rừng thứ sinh già.

Kỉểu rừng thưa ưu thế họ Sao dầu rụng lá (Deciduous Dipterocarp Woodlands, rừng khộp)

Rừng khộp-một số định nghĩa: “…Thảm thực vật rừng có dạng khảm giữa nửa lá rụng và lá rụng trên đất thấm…” theo Cục kKểm lâm 2002; “…Rừng khộp Yok Đôn không như những khu rừng nhiệt đới thông thường với nhiều dây leo chằng chịt mà chủ yếu gồm các loài cây thân gỗ mọc thưa thớt. Nhiều cây trong số này có thân rỗng nên những loài chim như Vẹt và Yểng thường kéo đến làm tổ. Dưới nền rừng, cỏ mọc xanh um như một tấm thảm. Đó chính là nơi kiếm ăn của các loài thú như Bò rừng, Hươu, Nai và Voi…Rừng khộp phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, duyên hải Nam Trung bộ. Cây rụng lá theo mùa, xen cây thường xanh. Có các cây họ Dầu chiếm ưu thế…” Theo Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn,2003.


Theo M. Schmid (1974-1989) kiểu rừng thưa ưu thế họ Sao dầu rụng lá tại Việt Nam là kiểu rừng có nguồn gốc từ sự mở rộng sang phía đông kiểu sinh cảnh tiêu biểu cho vùng lục địa của khu vực Đông Nam Á với chế độ mưa trung bình hàng năm thường thấp hơn 1.800mm với 5-7 tháng khô. Cùng lúc đó thì kiểu này cũng được xác định bởi kiểu thổ nhưỡng, trên đất xương xẩu ngay bên cạnh khu vực có sự hiện diện của kiểu rừng nửa xanh trên tầng đất sâu và giữ nước tốt, tại Việt Nam kiểu rừng thưa ưu thế họ Sao dầu rụng lá được phân bố khá rộng từ Nghệ An đến Đông Nai,Tây Ninh mở rộng qua đến Campuchia.

Kiểu rừng Sao dầu thứ sinh trên đất ngập nước theo mùa trên đất phù sa cổ có tầng đá ong dưới rừng khộp

Ô tiêu chuẩn LGXM 01 (LGXM 01" lat=11.648632451, lon=105.900015098)

Do đặc điểm ngập nước nên chỉ những loài thích ứng được với điều kiện này mới phát triển và số lượng loài khá thấp. Vào mùa khô gần như trống phần thảm cỏ do khô hạn, đây là nguồn dễ gây cháy rừng. Vào mùa mưa thảm cỏ như thay đổi hẳn với các loài không thể thấy vào mùa khô như: Tre lùn, Burmania cf. coelestis , Calamus sp.,Hibiscus sp.,Crotalaria calycina,Costus speciosus... Ngoài ra còn có sự xuất hiện của một số loài Lan đất như: Habenaria rostrata, Habenaria sp. nếu đi vào mùa khô sẽ không bao giờ ghi nhận. Tầng cây bụi dây leo khá đơn giản bao gồm một số loài như Careya arborea Roxb., Tetracera sp., Dracaena cf. cochinchinensis (Lour.) Merr., Streblus ilicifolia( Kurz.) Corn., Trigonostemon gaudichaudii (H.Baill.) Muell.-Arg., Hoya obovata Dene in DC. var. obovata, Gardenia philasrei Pierre ex Pit…Dựa vào chỉ số tương đồng (coefficient of similarity) của Sorensen (1948) để so sánh 2 ô tiêu chuẩn LGXM 01 và LGXM 02 cho thấy: Ks= 44%. Điều đó cho thấy thành phần thực vật giữa 2 ô không hoàn toàn giống nhau.

Kiểu rừng Sao dầu thứ sinh trên đất ngập nước trên đất phù sa cổ vùng trũng có tầng mùn bề mặt


Ô tiêu chuẩn LGXM 02 (LGXM 02" lat=11.6353430381, lon=105.869901953)

Kiểu rừng khá giống LGXM 01 nhưng không thấy sự xuất hiện của Dầu lông Dipterocarpus intricatus, đây là giới hạn tiếp giáp với kiểu rừng ưu thế Tràm. Hiếm hay có thể nói gần như không thấy nhóm Lan đất, xuất hiện nhiều nhóm thực vật ăn thịt Drosera burmannii, Drosera indica, nhóm tiêu biểu chỉ thị đất nghèo dinh dưỡng. Sự phân bố cấp kính khá giống Ô LGXM 01, tuy nhiên mật độ cây khá thấp. Tái sinh tự nhiên cũng có sự tập trung vào nhóm cây Sao dầu như Dipterocarpus obtusifolius (16), Syzygium sp. 1 (9), Calamus sp. (15), Dillenia sp. 1 (10), Melastoma sp. (1).

Kiểu rừng khô thưa thứ sinh ngập nước theo mùa trên đất ngập nước ưu thế họ Sao dầu và Tràm

Ô tiêu chuẩn LGXM 04 (LGXM 04" lat=11.6364563395, lon=105.857343736)

Bảng 15. Mối tương quan giữa số cây, cấp kính và chiều cao của các loài trong Ô LGXM 4 Tà Nốt

Số cây

Cấp kính

trung bình (cm)

Chiều cao

trung bình (m)

23

15,0

4,0

12

24,2

7,1

6

32,3

11,5

1

41,7

15,7

Nhìn chung đây có thể là dạng trung gian giữa kiểu rừng khô thưa thứ sinh ngập nước theo mùa trên đất ngập nước ưu thế họ Sao dầu và Tràm và kiểu rừng nguyên sinh thứ sinh thường xanh cây lá rộng theo mùa, khi có sự xuất hiện đồng thời của Dầu trà beng, Dầu lông và Bằng lăng hay Cầy…

Kết luận và kiến nghị

- Rừng dầu song nàng là những diện tích hiếm hoi còn lại của vùng Đông Nam Bộ, với mật độ tập trung cao hiếm nơi nào khác trong vùng.

- Rừng khộp hooxn giao dầu trà beng và dầu lông cũng sinh cảnh đáng được lưu tâm, nguy cơcháy rừng cao

- Rừng khoanh nuôi sau khai thác khu vực Trạm Lò Gò đang có chiều hướng diễn thế tích cực có sự thay dần các loài tiên phong già bằng các loài có nguồn gốc nguyên sinh.

- Vấn đề khai thác lấy dầu chai đã chấm dứt căn cứ vào các bọng dầu đã liền lặn.

Kiến nghị

- Tích cực có các biện pháp bảo tồn khu rừng Dầu song nàng, hạn chế các tác động đi lại trong khu vực, hiện nay vẫn còn nhiều đường mòn còn sử dụng (?) có thể ảnh hưởng đến việc bảo vệ. Tăng cường việc bảo vệ tốt không để người dân vào lấy chai dầu.

- Hạn chế việc chăn thả súc vật nhất là mùa khô để phòng cháy rừng nhấtt là các khu rừng khộp hỗn giao.

- Hình thành một ô định vị (permanent plot) có diện tích từ 1 ha trở lên ở các kiểu rừng thuần Dầu song nàng và kiểu rừng sau khai thác để theo dõi diễn thế rừng, có đo đếm định kỳ. Đây có thể là những ô đo đếm thú vị theo dõi diến biến của rừng sau khai thác, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học giảng dạy cho sinh viên lâm nghiệp.

- Cần tiếp tục tìm kiếm các láng dầu mít, đến nay vẫn còn thiếu thông tin hay chưa cập nhật về vị trí và phân bố của loài này trong VQG.

Tài liệu tham khảo

1.     Hegner R., 1979: Nichtimmergruene Waldformationen der Tropen Koelner Geographic Arbeiten 37: 1-410.
2.     Phạm hoàng Hộ, 2000: Cây cỏ Việt Nam, quyển I, II, III. Nxb. Trẻ .
3.     Khamyong R., S. Pramsarit, J. Pithong,1996: The Relationship between Plant
4.     Kreeb K. H., 1990: Methoden zur Pflanzenoekologie und Bioindikation. Stuttgart, New York.
5.     Lamprecht H., 1986: Walbau in den Tropen. Hamburg Berlin.
6.     Lassoie J. P., T. M. Hinckley, (eds.) 1991: Techniques and Approaches in Forest Tree Ecophysiology. Boston.
7.     Limh V. B., 1996: Dry Open Dipterocarpus Forests in Vietnam. Vietnamese studies 52(122): 67-86.
8.     Phan Kế Lộc và cs., 2007: Góp phần điều tra bổ sung một số loài thực vật có giá trị bảo tồn ở VQG Lò Gò - Xa Mát Tây Ninh, (lưu hành nội bộ).
9.     Mitloehner R., 1996: Pflanzeinterner Wasserhaushalt und Bestandesstrukture in regengrunen Colophospermum mopane - Trockenwaeldern Namibias. Forstarchiv 67: 71.
10.    Phân viện điều tra quy hoạch rừng, 2003: Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát. 39 trang.

Trương Quang Tâm, Lý Ngọc Sâm
Viện Sinh học nhiệt đới
(Tuyển tập báo cáo Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 3, 22/10/2009 - Viên ST&TNSV - Viện KH&VN Việt Nam)

anhtai.bvn

 

Bài nguyên bản: http://botanyvn.com:443/cnt.asp?param=news&newsid=1277
© Copyright 2007-2022 BVNGroup, website http://www.botanyvn.com
® BVNGroup. Mọi nội dung được sử dụng lại đều phải ghi rõ nguồn gốc từ website này.